Cẩn trọng cấp vốn ngoại tệ Tín dụng ngoại tệ tăng mạnh trong những tháng gần đây theo tôi không có gì đáng lo ngại và bất thuờng. Bởi một khi lãi suất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ có sự dị biệt rõ nét, cộng với tỷ giá ổn định sẽ có sự chuyển dịch. Trong thời kì qua, lãi suất tiền đồng vẫn được duy trì ở mức cao hơn nhiều so với ngoại tệ, lại được NHNN cam kết sẽ không điều chỉnh quá 2% trong một năm nên các cá nhân chủ nghĩa và tổ chức dịch chuyển từ ngoại tệ sang gửi kiệm ước tiền đồng. Điều này được chứng minh khi tần tiện tiền đồng tăng mạnh trong 6 tháng qua và tiền gửi tần tiện ngoại tệ âm trong thời gian dài. Lãi suất tiết kiệm ngoại tệ bây giờ đã được giảm xuống mức kịch sàn, với 0,5%/năm đối với doanh nghiệp, còn khách hàng cá nhân chỉ được hưởng mức lãi suất 1%/năm.
Trước đây, lãi suất tiền gửi ngoại tệ tuy không cao như tiền đồng, nhưng phần đông người dân có tâm lý nắm giữ ngoại tệ, kỳ vọng tỷ giá tăng, nhất là ở thời kỳ lạm phát cao. Giai đoạn khủng hoảng xảy ra sau năm 2008, tỷ giá hối đoái có những thời khắc tăng đến 6-7%, còn hiện tại rất khó lặp lại. Ở chiều hướng trái lại, tín dụng ngoại tệ tăng trưởng khá lớn, với trên 12% trong tháng 6 năm nay. Căn nguyên chính do lãi suất cho vay bằng ngoại tệ hiện chỉ còn 2-3%/năm đối với kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài 4-5%/năm. So với lãi vay tiền đồng, doanh nghiệp dùng vốn ngoại tệ vẫn có lợi hơn nhiều. Song điều đó không có nghĩa doanh nghiệp nào cũng được tiếp cận vốn vay bằng ngoại tệ mà phải có điều kiện kèm theo đúng với quy định của NHNN về việc hạn chế tín dụng USD. Vì thế, chẳng thể nói tín dụng ngoại tệ tăng sẽ làm tình trạng đô la hóa tăng, mà theo tôi đã nằm trong tầm kiểm soát của NHNN. Mặt khác, hiện dự trữ ngoại tệ nước ta khá dồi dào, việc kiểm soát và giám sát thị trường ngoại tệ cũng khá chém đẹp, đủ sức để can thiệp, nên khả năng biến động thị trường rất khó xảy ra. PHÓNG VIÊN: - Đã có hiện tượng một số doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ bán lấy tiền đồng gửi tần tiện để hưởng lãi suất cao. Ông bình luận như thế nào về vấn đề này? TS. Cao Sỹ Kiêm: - Cũng có thể xảy ra một số trường hợp này nhưng khả năng rất ít, vì hiện cơ chế thanh tra, giám định để cung ứng tín dụng ngoại tệ cho doanh nghiệp được NHNN kiểm soát chặt chịa và kỹ lưỡng. Nếu vi phạm, NHTM phải là người đầu tiên chịu nghĩa vụ trước NHNN. Đồng thời, với các hiệp đồng tín dụng ngoại tệ lớn, trước khi NHTM ký với doanh nghiệp phải có sự đồng ý phê duyệt của NHNN. Dòng vốn ngoại tệ sau khi giao cho doanh nghiệp cũng được phía NHTM theo dõi chặt chẽ, đúng mục đích dùng vốn nên rất khó xảy ra tình trạng vay ngoại tệ bán lấy tiền đồng gửi tằn tiện. Có thể một số ít doanh nghiệp làm liều, luồn lách vay ngoại tệ bán lấy tiền đồng gửi hà tằn hà tiện, nhưng nếu không cẩn trọng khi phát hiện sẽ bị xử nặng, cán bộ NH và cả doanh nghiệp có thể đối mặt với án hình sự. - Việc ổn định tỷ giá ngoại tệ với biên độ không quá 2%, trong khi lãi suất tiền đồng vẫn cao và so cả với lãi suất trái phiếu, theo ông có tạo kẽ hở để nhà đầu tư nước ngoài đem ngoại tệ vào Việt Nam đổi lấy tiền đồng gửi hà tằn hà tiện dưới nhiều hình thức? - Tỷ giá ổn định sẽ tạo điều kiện tăng cuộn ngoại tệ vào Việt Nam, giảm bớt đầu cơ và gia tăng nguồn dự trữ ngoại hối nhà nước. Theo tôi, việc kiểm soát tỷ giá của NHNN thời kì qua là ăn nhập, mức điều chỉnh không quá 2%/năm. Vì nếu tỷ giá đổi thay sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến xuất - nhập khẩu, việc làm nhưng nếu “neo” lâu quá cũng không khuyến khích được xuất khẩu. Ngược lại, nếu “thả” ra sẽ ảnh hưởng đến nhập khẩu cũng như việc trả nợ nước ngoài của Việt Nam. Nếu không kiểm soát tỷ giá ở mức phù hợp Biển Đồng Chữ Nổi sẽ tạo nhịp đầu cơ về ngoại tệ, làm cho tình trạng đô la hóa trên của thị trường càng nghiêm trọng hơn. Lãi suất và giá trị tiền đồng - Có vẻ như lượng tiền đồng của NHTM giờ được dồn vào trái khoán chính phủ (TPCP) và các nhà đầu tư nước ngoài cũng muốn mua Biển chức danh để bàn trái phiếu ngày càng nhiều, dù lãi suất TPCP đã hạ xuống mức kỷ lục (kỳ hạn 1 năm còn 4,7-4,8%/năm và kỳ hạn 2 năm 5,37%/năm). Ông bình luận vấn đề này như thế nào? - Điều này càng tốt cho Việt Nam, vì huy động được nguồn vốn ngoại, tăng dự trữ ngoại hối và có thêm điều kiện dùng vốn ngân sách cho các mục đích chính đáng. Tuy nhiên, việc các NHTM đổ xô mua TPCP trong thời gian qua và kể cả bây chừ không được lành mạnh lắm. Bởi với vai trò của các NHTM là huy động nguồn vốn và đưa vốn ra nền kinh tế, tương trợ doanh nghiệp sinh sản kinh dinh, tạo việc làm cho tầng lớp, tạo sức mua, không phải huy động để mua TPCP, hạn chế nguồn vốn đưa ra doanh nghiệp.
Có thể tình hình bây giờ khi tăng trưởng tín dụng khó khăn, sức mua và tồn kho chưa cải thiện, nhu cầu vốn của doanh nghiệp không tăng nên đầu ra của đồng vốn hạn chế. Không cho vay được, các NHTM buộc phải tính toán sinh lời và kênh TPCP được tuyển lựa để rót vốn. Vì thực tại không cho vay, NH cũng phải trả lãi suất cho người gửi tiền. Do đó dù lãi suất TPCP giảm thấp cũng được xem là một hướng ra cho đồng vốn. Mặt khác, TPCP vấn nguồn vốn để gia tăng ngân sách trong chi tiêu tốt hơn kích cầu… dù TPCP trước mắt không tạo được hàng hóa và giá trị giá trị thặng dư ngay. - Vậy vì sao NH không hạ lãi suất hà tằn hà tiện để giảm mạnh lãi suất đầu ra, hỗ trợ doanh nghiệp? - Để giảm lãi suất tiền gửi phải cứ vào xu hướng lạm phát. Nếu lạm phát cao hơn mặt bằng lãi suất tiện tặn NH khó có thể cắt giảm. Với khuynh hướng lạm phát bây giờ và trần lãi suất 6%, tiền nhàn rỗi mới có thể chảy vào NH. Lãi suất phải cao hơn hoặc bằng so với lạm phát. Chính sách nhà nước là không nên làm thiệt cho dân. Do đó theo tôi khó có thể giảm thêm trần lãi suất so với mặt bằng bây chừ. Mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức kỳ vọng 5,5-6%/năm nay nên lãi suất 6%/năm là không cao. - Có quan điểm cho rằng các NHTM duy trì lãi suất huy động cao hiện nay là để tiếp nuôi các khoản nợ xấu chưa thể xử lý được? - Tôi cho rằng không có việc NH duy trì lãi suất cao nhằm huy động vốn để nuôi các khoản nợ xấu chưa thể xử lý được. Vì nếu huy động chi phí cao, buộc NH phải cho vay ra lãi suất cao. Nhưng trong lúc này nếu cho vay lãi suất cao NH sẽ khó tăng trưởng tín dụng. Việc duy trì lãi suất hà tằn hà tiện cao để cạnh tranh huy động vốn chỉ có ở những NH nhỏ yếu kém, cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, việc các NH quy mô nhỏ niêm yết lãi suất cao cũng chưa hẳn thu hút được khách hàng gửi hà tiện, vì người gửi e sợ những rủi ro, vỡ vạc đối với NH yếu kém. Qua đó có thể thấy, trong cạnh tranh cũng có nhiều nguyên tố và mối quan hệ ràng buộc, chẳng thể thái quá.
- Theo ông, việc tiền đồng có ví hiện nay là điều mừng hay lo? - Mừng ở chỗ chúng ta đã kiểm soát được lạm phát. Lạm phát đang khuynh hướng đi xuống và đạt mức kỳ vọng. Nhưng cũng có những cái lo đó là kinh tế chưa bứt phá lên được, giá cả không tăng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng có hai nhân tố là do tiền đưa ra nền kinh tế nhiều đẩy giá tăng, sinh sản sụt giảm cũng làm cho tăng giá. Cả hai cái này đều không có lợi. Bởi vậy, nếu lạm phát giảm nhưng sinh sản phát triển mới là nguyên tố tích cực. Còn với tình hình hiện thời, lạm phát giảm sức mua không tăng, hàng hóa tồn đọng sẽ dẫn đến quan hệ tiền-hàng mất cân đối. - Xin cảm ơn ông. |
Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014
Chưa đáng lo tín dụng ngoại tệ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét