Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014
Áp trần giá sữa: Kỳ 2 - Mệnh lệnh khó theo kịp thị trường
Việc quản lý giá sữa bằng phương thức hành chính theo cách mà Bộ Tài chính đang vận dụng trong Quyết định chưa phải là tuyển lựa tối ưu Với Quyết định số 1079/QĐ-BTC, Bộ Tài chính đã mang lại nhiều ngó cho các bà mẹ có thể mua sữa với giá có lí hơn. Có vẻ như với Quyết định này, Bộ Tài chính đã có một lựa chọn tối ưu cho việc quản lý giá sữa khi mà giá sữa của các hãng lớn bị ấn định mức tối đa và được kê mức cụ thể trong Quyết định. Tuy vậy, nhìn kĩ vào Quyết định còn vài nội dung cần phải xác định lại. Chưa rõ về tiêu chí Thứ nhất, đối tượng áp dụng trực tiếp của Quyết định là năm doanh nghiệp (DN) với 25 loại sữa mà các DN này kinh doanh. Mặc dù theo phát ngôn của Bộ Tài chính, đây là các DN lớn trong việc kinh dinh các sản phẩm sữa cho con nít dưới 6 tuổi. Nhưng bản chất của việc quản lý hành chính Nhà nước khó mà hài lòng những kết luận mang tính chung chung như vậy. Nói cách khác, Bộ Tài chính cần phải công bố tiêu chí của các DN thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Quyết định là gì? Dựa vào tiêu chí thị phần để xác định đối tượng điều chỉnh của Quyết định tạo ra bất công giữa các DN kinh doanh sữa, chưa kể mức phần mà Bộ Tài chính phát ngôn là một thị phần chưa được xác định một cách minh thị dựa trên nguyên lí xác định thị trường sản phẩm liên tưởng và thị trường địa lí liên can. Thứ hai, với qui định của Luật giá và nghị định 215/2013/NĐ-CP Qui định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài Chính, Bộ tài chính có quyền ứng dụng biện pháp bình ổn giá đối với sữa. Tuy vậy, với việc qui định mức giá tối đa đối với 25 loại sữa trong Quyết định, Bộ tài chính đã can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của DN. Xét ở góc cạnh của nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đang đeo đuổi, động thái này của Bộ tài chính có thể dấy nên quan ngại về một môi trường kinh doanh tự do. Thứ ba, bản chất của việc xây dựng mức giá tối đa của 25 loại sữa trong Quyết định dựa trên cấu thành giá mà DN báo cáo. Từ đây nảy hai vấn đề: Một là: Cấu thành giá do DN kê khai, về mặt lý thuyết Bộ Tài chính có thể soát và thẩm định lại cấu thành giá. Tuy thế, trong trường hợp DN kinh doanh sữa bằng phương thức nhập cảng nguyên liệu, vấn đề xác định mức giá sữa vật liệu là rất khó khăn khi mà trong một thời gian dài, vấn đề chuyển giá luôn làm đau đầu cơ thuế quan của Việt Nam. Như vậy, dù được xác định là nền tảng của việc xác định giá tối đa, nhưng khả năng mà Bộ tài chính có thể thẩm tra các nhân tố hình thành giá của DN lại không rõ ràng, có thể tạo nên sự bất công giữa DN sản xuất sữa trong nước và sinh sản sữa bằng vật liệu nhập khẩu. Hai là, thoạt nhìn việc xác định giá của 25 loại sữa dựa trên chi phí sinh sản của DN là hợp lí. Tuy nhiên, mặt trái của cách tiếp cận này là về nguyên tắc giá mà DN có tổn phí sản xuất cao sẽ được Bộ tài chính xác định cao hơn. Trong quá trình kinh doanh, DN phải bảo đảm sự tối ưu giữa chất lượng và giá cả. Về mặt nguyên tắc, để chất lượng không đổi, nguyên lí là DN phải kiểm soát được chuỗi cung ứng đầu vào. Nói cách khác, DN phải có sự đầu tư cho chuỗi cung ứng để hoài sản xuất ở mức thấp nhất. Qua đó, giá của sản phẩm sẽ giảm nhưng chất lượng không đổi. Với áp lực của cạnh tranh, DN muốn tồn tại, tất yếu phải theo con đường như vậy. Tuy nhiên, với cách thức xác định giá dựa trên cấu thành giá trong Quyết định, thành quả đầu tư cho chuỗi cung ứng vật liệu của DN không những không được ghi nhận mà còn là một bất lợi của DN so với các DN khác. Mất tính thị trường Như vậy, xét từ mục đích của việc quản lý giá sữa , các tác giả hoàn http://vietnampcs.Com/dich-vu/diet-va-phong-tru-chuot/ toàn ủng hộ chủ trương quản lý giá sữa của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, việc quản lý giá sữa bằng phương thức hành chính theo cách mà Bộ Tài chính đang vận dụng trong Quyết định chưa phải là lựa chọn tối ưu. Mục đích quản lý giá từ đầu đặt ra có thể sẽ không đạt được. Nhìn từ giác độ ngắn hạn, việc quản lý giá theo phương thức bình ổn giá sẽ là tạm ưng ý nếu Bộ Tài chính có cơ chế để thẩm tra chính xác các yếu tố cấu thành giá mà DN kê khai. Xây dựng một mặt bằng giá chung cho các DN kinh dinh sữa. Kết quả là khuyến khích các DN phải lùng những cơ chế tối ưu cho việc sinh sản sản phẩm có hiệu quả, qua đó bảo đảm ích của những DN có tổn phí sinh sản thấp. Hiện, với mức giá bán chỉ bằng gần một nửa giá sữa ngoại, mặc dầu các chỉ tiêu chất lượng tương đương, nhưng cũng bị áp giá trần, đã gây khó cho các DN sữa nội trong nước phát triển. Tuy vậy, về mặt dài hạn cơ chế giám sát giá sữa nên thay đổi từ cơ chế hành chính như trên là không ổn. Nhìn từ giác độ kinh tế, thứ tự cạnh tranh trên thị trường chỉ bị khuynh đảo bởi các DN lớn. Tiếng nói luật cạnh tranh gọi là DN có vị trí thống lĩnh thị trường. Mặt khác, nhìn từ giác độ quyền tự do kinh doanh, DN thống lĩnh và DN nhỏ bình đẳng về quyền và bổn phận. Do đó, DN không bị phân biệt đối xử vì qui mô kinh doanh của mình. Tuy nhiên, khi DN lợi dụng qui mô lớn của mình mà bóc lột khách hàng, chắc hẳn pháp luật phải can thiệp. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý của Nhà nước phải như vậy. DN có quyền tự doanh kinh dinh trừ trường hợp vi phạm pháp luật. Do đó, thật sửng sốt khi mà trong một thời kì dài, giá sữa tại Việt Nam biến động như thế mà hầu như không thấy bất kì động tĩnh nào từ cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam, mặc dầu luật pháp cạnh tranh cho phép cơ quan này tự mình tiến hành các bước điều tra bước đầu để xác định có hay không hành vi bóc lột khách hàng Khoản 2 điều 86 luật cạnh tranh. Mức phạt đến 10% tổng doanh thu của năm liền kề trước đó ắt hẳn phải là một chế tài mà bất cứ DN kinh dinh sữa nào cũng phải kiên dè khi thực hành hành vi bóc lột khách hàng. Do đó, câu hỏi đặt ra là tại sao cơ quản lý cạnh tranh (Bộ công thương nghiệp) lại có sự im lặng một cách khó hiểu như vậy trong việc quản lý sữa tại Việt Nam trong thời kì qua. Theo các tác giả chính Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) mới là người cầm cân nẩy mực trong quản lý giá sữa chứ không phải là Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) như dư luận vẫn bàn trong những ngày vừa qua. Sữa cho trẻ thơ dưới 6 tuổi là một loại hàng hóa thiết yếu. Mặt hàng http://vietnampcs.Com/dich-vu/dich-vu-diet-muoi-con-trung-hai/ này quan yếu không chỉ vì mức độ tác động rộng lớn đối với một bộ phận dân cư rộng lớn. Từ góc độ nhân văn, thật đau lòng khi nhìn những bà mẹ phải mua những loại sữa kí (sữa bán theo đơn vị kg không có nhãn mác và nguồn cội rõ ràng) cho con vì không có tiền mua những loại sữa uy tín hơn! Với thuộc tính đặc biệt như vậy, trong nhiều năm Việt Nam luôn xác định sữa là mặt hàng phải chịu sự quản lý về giá của Nhà nước. Điều này biểu hiện tính nhân văn sâu sắc. Tuy vậy, nhìn lại thị trường sữa trong vài năm gần đây, giá sữa vẫn cứ nhảy múa bất kể sự quản lý ghét của Nhà nước. Phản tác dụng Phải khẳng định rằng, chúng ta đã và đang đổi thay tư duy quản lý kinh tế rất mạnh mẽ. Trong lĩnh vực quản lý giá, đã chuyển từ cơ chế giá hành chính áp đặt sang cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây có thể coi là bước chuyển biến, đột phá tư duy mạnh mẽ trong quản lý giá nói riêng, quản lý kinh tế nói chung. Quốc gia nhất quán quản lý giá theo cơ chế thị trường, tức thị để giá cả hình thành và vận động theo đúng quy luật vốn có của nó là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, không chạy theo dư luận. Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) từng bàn luận với báo chí ý kiến quản lý giá của quốc gia trong mai sau. Theo ông Thỏa, Nhà nước tác động vào sự vận động của giá cả không phải là quay lại cơ chế quản lý thời bao cấp, bởi quốc gia không dùng mệnh lệnh hành chính. Tuy nhiên, hiện giờ, sự bao cấp, bù giá, bù chép trong giá sẽ làm “méo mó” giá cả, dẫn đến giá cả không vận động theo quy luật vốn có của nó là quy luật giá trị và cũng không thực hiện đúng chức năng là dụng cụ tính nết hao phí lao động tầng lớp; là đòn bẩy kinh tế; là phương tiện để vỡ hoang, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tầng lớp. Hơn nữa, giá cả bị “méo mó” thì không có cạnh tranh, mà không có cạnh tranh thì giá cả lại chẳng thể trở thành bàn tay vô hình để điều tiết sản xuất. Tuy nhiên, chính sách quản lý giá sữa hiện giờ không khác gì so với quản lý giá xi măng trước đây. Năm 2008, nhu cầu xi măng của thị trường tăng mạnh trong khi năng lực sản xuất xi măng trong nước chưa đủ đáp ứng. Giá xi măng và clinker (nguyên liệu sinh sản xi măng bột) du nhập tăng, hoài vận tải và lưu kho ở trong nước cũng tăng nhưng nhà sinh sản không được phép tăng giá. Tuy nhiên, với mức áp trần giá với mỗi bao xi măng, để giảm thua lỗ, nhiều DN đã chủ động cắt giảm lượng xi măng sản xuất, cung ứng ra thị trường, gây nên tình trạng cung không đủ cầu và tức thì thị trường xi măng lên cơn sốt. Giá bán sỉ vọt lên tới 90.000-100.000 đồng/bao, bất kể giá bán tại nhà máy vẫn ổn định ở mức 50.000-53.500 đồng/bao. DN lỗ nhưng người tiêu dùng cũng chẳng thể mua được giá rẻ. Nhắc lại chuyện giá xi măng để cho thấy việc quản lý giá cả thị trường bằng phương tiện hành chính là con dao hai lưỡi và nó có thể phản tác dụng. Tình hình thị trường sữa bây chừ rất giống với thị trường xi măng trước đây. Ngành chế biến sữa phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập cảng. Các sản phẩm sữa cho con nít dưới 6 tuổi được bán trên thị trường đa số cũng từ nguồn du nhập. Chủ trương của Chính phủ và Bộ Tài Chính áp dụng biện pháp bình ổn giá đối với sản phẩm sữa dành cho trẻ con dưới 6 tuổi là chủ trương đúng và cấp thiết trong tình hình thị trường sữa bột trẻ mỏ tại VN thời gian vừa qua có rất nhiều bất cập do chênh lệch đáng kể về giá bán giữa sản phẩm sữa bột sinh sản trong nước và sản phẩm du nhập. Tuy nhiên, phương pháp và cách tính áp giá trần như thế nào để khuyến khích sản xuất trong nước và kiểm soát được giá bán hợp lý các sản phẩm đến tay người tiêu dùng là vấn đề cần phải xem xét thấu đáo và cần được sáng tỏ. Phạm Hoài Huấn - Trương thị Thanh Thúy
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét